Miền ký ức nơi sân ga, góc chợ
Tôi rời làng quê để tới Hà Nội nhập học trong một buổi chiều cuối thu cánh đồng lúa ngả màu vàng óng. Chiếc ba lô bên mình, nhìn ra ô cửa sổ chuyến tàu, những ngôi nhà bắt đầu lấp lánh ánh đèn khi buổi chiều tàn bóng tối ập xuống. Tôi ngơ ngác nhìn ra khoảng không gian xa xa, thấy một chút lãng đãng, một chút vừa vấn vương. Tuổi mười tám, có điều gì háo hức đang chờ đợi ở phía trước, như chuyến tàu vẫn lăn bánh trên đường ray.
Ga Hàng Cỏ đón tôi bằng những ánh vàng đèn điện buổi tối. Một gam màu đủ ấm nóng cho cô sinh viên vừa mới xa nhà. Có những con tàu đợi chờ nằm dọc sân ga. Một đoàn tàu chuẩn bị chuyển bánh, người đi ngược, kẻ về xuôi. Ai thôi đợi chờ để tìm cho mình những nẻo đường về có bình yên, hạnh phúc? Từ lúc chiều nay, mẹ tôi bịn rịn đưa tôi ra ga. Mẹ dặn tôi cố gắng học hành thật tốt. Cả quãng đường dài tôi ngồi trong hàng ghế trên tàu, nỗi nhớ về mẹ nhìn đằng trước, ngó đằng sau, chỗ nào tôi cũng thấy.

Ga Hàng Cỏ, bây giờ đổi tên là ga Hà Nội, được xây dựng từ thời Pháp 1897-1902. Trải qua bao biến động thăng trầm của lịch sử, diện tích ga Hàng Cỏ đã thay đổi nhiều. Nơi sân ga ấy, đôi khi không chỉ là dọc ngang chuyến tàu rời bến đi xa, mà còn chở cả ký ức một thời chẳng ai có thể quên được. Đó là hàng trăm chuyến tàu chở hàng vạn thanh niên Hà Nội vào Nam chiến đấu; là những cuộc chia tay đầy cảm xúc, rất đỗi tự hào của người Hà Nội.
Tôi không có nhiều kỷ niệm về ga Hàng Cỏ, nhưng tôi không thể quên ngày đợi em trai tôi ra chơi với chị nhân dịp nghỉ hè mà hai chị em lạc nhau tìm muốn khóc.

Một ngày mùa đông lạnh đỏ trên những tán lá bàng, tôi và đứa bạn chở nhau ra chợ Đồng Xuân. Khu chợ gắn bó với Hà Nội bao đời cùng lịch sử. Ngày xưa, trên những dòng sông gió hát, nơi thuyền bè tấp nập, người dân chèo thuyền qua lại bán mua. Triều đình nhà Nguyễn đã cho xây dựng khu chợ ở phía Nam sông Tô Lịch để phục vụ việc giao thương buôn bán của tàu thuyền.
Chợ Đồng Xuân ngày đó đi vào trong ký ức của các cụ ta bởi những gian hàng mùa nào thức ấy. Người dân tứ xứ đổ về đây, lao xao cá tôm; rôm rả hàng cà, hàng táo, hàng lê. Cả những người từ mạn Thanh – Nghệ cũng chèo thuyền về đây để đổi cá lấy gạo.

Năm 1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Trung tuần tháng 2 năm 1947, một trận chiến ác liệt giữa Trung đoàn Thủ đô và nhân dân chợ Đồng Xuân với giặc Pháp trong những năm đầu kháng chiến.
Ngày nay, ngay cửa chợ Đồng Xuân là bức phù điêu Hà Nội mùa đông năm 1946 như nhắc nhở chúng ta sự hy sinh của các cảm tử quân và đồng bào ta.
Bạn tôi đọc tặng tôi bài thơ Bà Xẩm ở chợ Đồng Xuân, bài thơ mà ông ngoại bạn thường hay nhẩn nha cùng chiếc đàn nhị:
"Hà Nội như động tiên sa
Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần
Vui nhất có chợ Đồng Xuân
Mùa nào thức nấy, xa gần xem mua".
Bài thơ như đưa tôi lạc về miền ký ức với những cô hàng xén răng đen thường bán kim chỉ, bấc đèn, khăn đen mỏ quạ; những chị nón thúng quai thao trong tấm áo mớ ba mớ bảy gánh gồng đi chợ bán mua. Chợ ở đây thường bán buôn nhiều hơn bán lẻ. Hàng hóa, vải vóc đủ sắc màu.

Tôi bước vào trong chợ định chọn cho mình một chiếc áo phao thật ấm. Nhưng khi đếm tiền trong túi, để có được chiếc áo đó chắc tôi chẳng còn tiền để mua thức ăn cho cả tuần sau. Chị bán hàng nhìn tôi ái ngại rồi nhỏ nhẹ bảo rằng: "Chị sẽ giữ áo này lại cho em. Hôm nào, em đến lấy, chị bớt cho em chút ít". Tôi rối rít cảm ơn chị.
Tôi chẳng thể quên chiếc áo phao màu đỏ ước ao; càng chẳng thể quên cái nhìn ấm áp, nụ cười thân thiện của một chị bán hàng có tết tóc đuôi sam xinh xắn. Thế đấy, cung cách buôn bán của tiểu thương chợ Đồng Xuân như níu bước chân tôi.
Hà Nội như người bạn cũ sớm nay đưa cho tôi hộp màu và cọ, bảo tôi vẽ bức tranh về Hà Nội. Điểm xuyết với màu xám cho đoàn tàu ga Hà Nội, màu vàng của chợ Đồng Xuân, màu rêu phong phố cổ; màu đỏ của ngọn cờ trên đỉnh Cột cờ Hà Nội.
Nhưng có lẽ tôi chưa đủ màu để vẽ lên tất cả màu văn hóa tuyệt vời và sâu sắc của Hà Nội yêu thương.


Thỉnh thoảng lúc rảnh rỗi, có người thường xem lại quyển sổ chép thơ mà cô đã viết tay một thời, hoặc mở máy laptop, mở điện thoại, nghe lại những bài nhạc yêu thích. Cô thích nhất là lắng nghe âm thanh quen thuộc từ những tình khúc bất hủ của Trịnh Công Sơn. Những lúc như vậy, cô lại tự hỏi mình: Ta là ai trong cuộc đời này?
Mỗi khi đến tiết Thanh minh, trong tâm thức của nhiều người lại nhớ về những ngày thơ bé hạnh phúc, được cùng ba mẹ làm món bánh trôi để đón Tết Hàn thực. Dẫu chỉ là món bánh đơn thuần nhưng đó lại là hương vị của đoàn viên.
"Thanh minh trong tiết tháng Ba/Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh" - tiết Thanh minh nhắc nhở người Việt Nam ta hướng về cội nguồn tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Vào những ngày giữa tháng Ba, mùa xuân ấm áp khẽ khàng làm sáng bừng sắc đỏ rực rỡ của hoa gạo ở ven sông. Ở một nơi xa, có một người con lại thao thức nhớ sắc hoa gạo quê nhà.
Tháng Ba về, khi thời tiết ở Hà Nội dần trở nên ấm áp hơn, có người thường ra phố, tìm mua ít quả nhót từ gánh hàng của các chị bán rong trên phố. Dẫu không thích ăn chua nhưng chỉ cần nhìn thấy mấy quả nhót chín ứng đỏ như đôi má trẻ thơ khi gió xuân tràn về, lòng cô không khỏi nôn nao nỗi nhớ quê hương.
Trong những giận dỗi ngơ ngẩn của trẻ con, những suy bì hiếu thắng ngây ngô của tuổi trẻ, những giọt nước mắt tủi hờn uất ức của tuổi trưởng thành, cô ấy luôn có cha bên cạnh. Người như ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho cô giữa đêm tối mịt mùng.
0