Đài PTTH Hà Nội
Đài PTTH Hà Nội
Đài PTTH Hà Nội

Con đường mòn xuyên rừng núi từ Đà Lạt xuống Đức Trọng, 50 năm sau, nhờ bàn tay khai phá của hàng vạn người dân Thủ đô và một số địa phương miền Bắc đã trở thành Tỉnh lộ 725 rộng rãi. Hai bên đường, nhà cửa khang trang với điền trang cà phê, bơ, mắc ca… mọc lên san sát. Thành quả ấy có được là nhờ bàn tay khai phá, thậm chí cả máu đổ xuống của hàng vạn người, trong đó có những người con Thủ đô Hà Nội yêu dấu..

Đài PTTH Hà Nội

Trong căn lầu hóng mát nằm giữa khu vườn xanh mát rộng 4.400m2 với đủ loại cây hoa, cây ăn trái và cà phê, chanh leo ở thôn Thăng Long, xã Nam Ban Lâm Hà, ông Bùi Ngọc Thức (sinh năm 1960) bồi hồi nhớ lại ngày 40 thanh niên khu phố Ba Đình lên đường đi tiền trạm: “Hôm đó là ngày 8-5-1976…”.

Năm ấy ông Thức mới 16 tuổi, đang học phổ thông. Căn nhà ở 8B Lê Trực chỉ khoảng 24m2 nhưng chứa 6 nhân khẩu. “Tuổi mới lớn mải chơi, thường theo bạn bè đu tàu điện, trèo me trèo sấu và nghịch có tiếng ở khu phố. Một tối, bố tôi là tổ trưởng dân phố đi họp về, bảo có muốn đi xây dựng vùng kinh tế mới thì đăng ký. Cũng không suy nghĩ nhiều đâu, tôi viết đơn tình nguyện, khai tăng 4 tuổi, trở thành người trẻ nhất trong lực lượng thanh niên tiền trạm ngày ấy”, ông Thức kể thêm.

Lật giở từng trang ký ức, giọng ông Thức trầm ngâm: “Nam Ban ngày ấy bạt ngàn cỏ tranh, lau lách với nhiều bom mìn sót lại sau chiến tranh, dấu chân thú dữ xen dấu giày Fulro. Trên đường xe chở thanh niên Ba Đình vào bị tàn quân phục kích, cũng may không thiệt hại gì. Đường vào Nam Ban, Lán Tranh chỉ là đường đất “một ben” (rộng bằng bề ngang lưỡi máy ủi). Khi đoàn Ba Đình đến nơi thì gặp đoàn Gia Lâm vào trước, các anh trai phố được mấy thiếu nữ ngoại thành xắn quần “khoe” đôi chân chi chít vết ruồi vàng cắn thâm đen. Vào đây mới thấm hết sự khốc liệt của khí hậu qua câu nói “Ruồi vàng, bọ chó, gió Nam Ban” mà nếu không trải qua không thể nào lột tả nổi. Và để bảo đảm an toàn, ngày thì chúng tôi đi khẩn hoang, tối thì được phát súng thay nhau gác Fulro”.

Chính vì sự khốc liệt của thời tiết, điều kiện sinh hoạt ngày đó mà hết “nhiệm kỳ”, nhiều thanh niên tiền trạm trở về Hà Nội, nhưng ông Thức quyết định ở lại. Ông tiếp tục đi nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ năm 1982, và chọn mảnh đất Nam Ban làm quê hương thứ hai đến nay. “Níu chân” ông ở lại vùng đất mới này là bà Nguyễn Thị Kim Sơn, sinh năm 1963, nhà ở phố Phan Huy Ích (cùng khu Ba Đình), theo gia đình vào đây khi mới 15 tuổi. Bà Sơn kể: Lúc mới lấy nhau cơ cực lắm. Anh Thức phải đi đào ao thuê, mỗi mét khối đất được trả 2kg gạo. Làm mãi thành tên, đến nỗi năm 1984, mẹ tôi ở Hà Nội vào thăm con cháu, hỏi nhà Thức, dân kinh tế mới ai cũng bảo “Thức đào ao chứ gì?”…

“Trước đây, chúng tôi ở khu đất không được “đẹp” như bây giờ, điều kiện canh tác khó khăn hơn rất nhiều. Nếu vợ chồng không quyết tâm thì sẽ không thể có cơ ngơi như hôm nay. Đúng là đất không phụ công người”, bà Sơn kể thêm.

Đài PTTH Hà Nội

Ở nhà ông Thức hôm ấy còn có hai vị cựu tiền trạm nữa. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh sinh năm 1957, quê Vĩnh Ngọc (huyện Đông Anh cũ), đi tiền trạm năm 1977, làm công tác chiếu bóng lưu động. Còn ông Nguyễn Khắc Dũng sinh năm 1956 là người Thượng Cát (huyện Gia Lâm cũ), vào đây tháng 10-1976, có biệt danh “Dũng xe ca” vì là người lái xe ca đầu tiên ở vùng kinh tế mới. Ông Cảnh kể ngày ấy các ông mang máy chiếu đi phục vụ bà con khắp vùng kinh tế mới, hết Nam Ban, Lán Tranh lại Tân Hà, Đan Phượng, Phúc Thọ… Một dịp Tết, đội chiếu bóng tháp tùng lãnh đạo vùng kinh tế mới đi giao lưu với buôn N’Thol Hạ của huyện Đức Trọng (cũ), ai cũng bất ngờ và cảm động khi được địa phương chiêu đãi mứt tết Hà Nội với hoa đào Nhật Tân!

50 năm đã qua, sự vất vả của ông Thức - bà Sơn, ông Dũng, ông Cảnh… đã lùi vào quá khứ. Giờ đây, những người cùng trang lứa với họ ngày càng “vơi” dần vì tuổi tác nhưng mỗi dịp lễ, tết hay có người từ Hà Nội vào, các ông lại tụ tập ôn lại chuyện xưa và kể cho nhau nghe những vui buồn của cuộc sống thường nhật. Trong các cuộc vui, một món ăn tinh thần không thể thiếu đó là cùng hát vang những bài ca về Hà Nội, nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn họ cho đến ngày nay.

Đài PTTH Hà Nội

Cách nhà ông Thức mấy con dao quăng, cơ ngơi của ông Trần Đình Tải (sinh năm 1944, nguyên Phó Trưởng Công an Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng) bề thế nhất thôn Thăng Long. Đó là căn biệt thự tựa vào chân dốc, xung quanh là vườn cây, ao cá, cây công nghiệp trong khuôn viên hơn 1ha.

Ông Tải vốn là Thượng sĩ Cảnh sát giao thông (Công an thành phố Hà Nội) được điều động vào vùng kinh tế mới khoảng tháng 4-1976. Xa Thủ đô, đời sống cơ cực nên lính tráng tâm trạng, thấy vậy ông Tải động viên: "Ở quê muốn trồng được củ khoai phải nhét xuống dưới cục phân bò, chứ ở đây chỉ cần cắm rễ tự khắc mọc ra cây, ra củ". Cái triết lý giản đơn của người chỉ huy đâm ra hiệu quả. Chẳng những cây mà người cũng "bén rễ", phát triển ở đất này. Đường con cái của ông bà cũng thật đáng nể. Cả 5 người con đều đỗ đạt, giữ chức vụ lãnh đạo ở Công an tỉnh Lâm Đồng và trong thành phố Hồ Chí Minh. “Cơ ngơi có được như ngày nay phần lớn là do 5 đứa con hỗ trợ chúng tôi đấy! Chứ anh bảo, ngày đó nuôi 5 đứa liền ăn học thì cực khổ thế nào. Nhà cửa rộng rãi, thường cuối tuần hoặc dịp lễ, tết, chúng mới về đây quây quần”, ông Tải cười hiền.

Đài PTTH Hà Nội

Thượng tá Đặng Minh Đức (nguyên Trưởng Công an thị trấn Nam Ban cũ) thuộc lớp kế cận ông Tải cũng đã nghỉ hưu chục năm. Tháng 12-1979, chàng Thiếu úy trẻ (sinh năm 1956), công tác tại Đội Cảnh sát kinh tế 3 Công an thành phố Hà Nội, nhà ở phố Tràng Thi, nhận lệnh vào vùng Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng. Cứ nghĩ hết thời gian biệt phái lại về Thủ đô, nhưng do yêu cầu công việc, khí hậu, thổ nhưỡng trong lành níu giữ nên ông Đức ở lại, đưa vợ con vào lập nghiệp hẳn trong này từ đó đến nay.

Mọi chuyện ở vùng đất Nam Ban nói riêng, Lâm Hà nói chung, Thượng tá Đặng Minh Đức như một pho từ điển “sống”. Tuy nhiên, ông ít kể về mình, nhưng hễ ai cần giúp đỡ, ông luôn sẵn sàng. Giờ nghỉ hưu được hơn chục năm, con cái học hành, phương trưởng cả, người ở Đà Lạt, người ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng người đàn ông gốc Hà Nội ấy vẫn chọn lựa vùng đất cao nguyên nắng gió này làm “trụ sở chính”. “Mình đi Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hay nước ngoài chỉ được ít ngày là lại nhớ, muốn quay về Nam Ban”, ông Đức bộc bạch.

Rời thôn Thăng Long, chúng tôi đến thôn Trung Hà (xã Nam Ban Lâm Hà) cách đó vài ki lô mét giữa một buổi trưa nắng. Từ Tỉnh lộ 725 rẽ vào con đường liên xã trải bê tông nhựa phẳng lì, hai bên đường là không ít căn biệt thự bề thế nằm giữa vườn mắc ca, bơ, cà phê…, cho thấy đời sống của bà con nơi đây đã ngày càng khấm khá. Ô tô con, ô tô tải thì khỏi nói, nhiều như các làng quê ngoại thành Hà Nội… Đã đến đây đôi lần nhưng sự thay đổi ấy khiến chúng tôi không nhận ra “cảnh cũ, người xưa” và phải dừng xe hỏi đường.

Đài PTTH Hà Nội

Phải đến cuối năm 1987, cuộc di dân lớn để khai phá vùng đất phía Nam Tây Nguyên thuộc tỉnh Lâm Đồng mới khép lại. Tổng cộng có hơn 5 nghìn hộ với 2,4 vạn nhân khẩu từ 4 khu phố nội thành và các huyện cũ của Hà Nội (kể cả Mê Linh, Hoài Đức, Đan Phượng, Phúc Thọ… thuở ấy cũng thuộc Thủ đô) đã lập nghiệp tại quê hương thứ hai. Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng hoàn thành sứ mệnh và được Hà Nội bàn giao cho tỉnh Lâm Đồng, cùng với 5 xã của huyện Đức Trọng trở thành huyện mới Lâm Hà. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, huyện Lâm Hà được chia thành 6 xã (Đinh Văn Lâm Hà, Nam Ban Lâm Hà, Phú Sơn Lâm Hà, Nam Hà Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà, Phúc Thọ Lâm Hà). Dù mang tên mới nhưng định danh “Lâm Hà” vẫn được giữ như ghi dấu những ký ức đẹp của người Thủ đô trên cao nguyên Lâm Viên.

Nghe khách hỏi nhà cô giáo Nguyễn Thị Lý, chủ nhà ngưng tưới cây, nói: “Các anh vào uống nước đã. Bà Lý ở gần đây, để tôi gọi điện xem có nhà không hay đang lên Bảo Lộc với con”. Chủ nhà là anh Nguyễn Thành Chung, sinh năm 1973, quê ở xã Việt Hùng, huyện Đông Anh (cũ). Bố anh Chung là thanh niên tiền trạm vào vùng đất Nam Ban năm 1976. Được 3 tháng thì ông đón vợ con vào lập nghiệp, lúc đó Chung mới 3 tuổi, là con thứ sáu trong gia đình. Đến nay nhà anh đã có 4 thế hệ “bén rễ” ở vùng kinh tế mới.

Trò chuyện một lúc mới hay anh Nguyễn Thành Chung là Chánh Văn phòng Đảng ủy xã Nam Ban Lâm Hà. Trước khi triển khai chính quyền địa phương hai cấp, anh là Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Đông Thanh (ghép tên hai huyện Đông Anh và Thanh Trì của Hà Nội). Dẫn khách tham quan khu vườn 7.000m2 sau nhà, anh bảo trước cũng trồng cà phê, mấy năm nay trồng bơ với mắc ca. Những cây bơ sai hoa, mắc ca lúc lỉu quả báo hiệu vụ mùa bội thu đang đến với vùng đất bazan thẫm đỏ ân tình.

Đang dở chuyện giá nông sản, “trồng cây gì, nuôi con gì” thì bà Lý đi xe máy tới. Cách đây 20 năm, chúng tôi từng gặp bà và câu chuyện của cô giáo Trường Tiểu học Đông Thanh Nguyễn Thị Lý ngày ấy giống như những thước phim tài liệu về hành trình mở đất.

Chuyện là vào tháng 8-1981, cô gái trẻ Nguyễn Thị Lý (sinh năm 1961, nhà ở thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì cũ) cùng 41 giáo sinh vừa tốt nghiệp hệ “Sư phạm 10+2” được biệt phái vào Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng. Cứ nghĩ sau “nhiệm kỳ” 3 năm lại về Thủ đô, không ngờ bén duyên với chàng trai quê ở Đa Tốn (huyện Gia Lâm cũ, vào đây tháng 10-1976) và họ cùng nhau xây dựng tổ ấm ở đất Đông Thanh.

Bà Lý nhắc chuyện cũ với chất giọng Hà Nội nhỏ nhẹ: “Lúc mới vào, trường lớp nơi đây đơn sơ lắm, chỉ là tranh nứa. Nhiều đêm giáo sinh trẻ chúng tôi chỉ ôm nhau khóc vì nhớ nhà, vì những thiếu thốn vật chất ở vùng đất mới. Sợ nhất là muỗi rừng đốt, rồi cả rắn rết. Đã 3 lần tôi cầm quyết định chuyển về Hà Nội, nhưng cứ lần lữa…”. Trong số 42 giáo sinh năm xưa chỉ còn bà Lý trụ lại với nghề “gõ đầu trẻ” nơi này đến ngày cầm sổ hưu, đến nay vừa tròn 45 năm. “Nhóm giáo sinh chúng tôi ngày ấy vẫn kết nối với nhau và dự kiến cuối năm 2026 này sẽ họp mặt tại Hà Nội để kỷ niệm 45 năm ngày đi vùng kinh tế mới”, bà Lý cho biết thêm.

Đài PTTH Hà Nội

…Còn rất nhiều những người như ông Tải, ông Đức, ông Thức, bà Lý… ở vùng đất Nam Ban Lâm Hà mà chúng tôi chưa thể gặp hết. Nhưng suốt 50 năm qua, bằng bàn tay cần cù, khối óc sáng tạo và trái tim nhiệt huyết của mình, những người con của Hà Nội đã san đồi, bạt núi, đào hồ để khai hoang hàng nghìn héc ta đất, xây dựng hàng trăm ki lô mét đường giao thông, hàng chục cây cầu và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh để có một vùng đất trù phú như hôm nay.

Thực hiện: Thế Dũng - Đức Hải
Thiết kế: Thanh Nga