


Trong một lần ra Hà Nội họp vào cuối năm 1975, ông Chế Đặng - Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Tuyên Đức (tháng 2-1976, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng - PV) - nói với bác sĩ Trần Duy Hưng - Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội: “Đất đai Tuyên Đức còn rất rộng, khí hậu mát mẻ, ôn hòa mà dân lại thưa. Có thể đưa dân Hà Nội vào làm ăn được chứ!”. Và từ đây, một phần máu thịt của Hà Nội đã gắn bó với đồng bào các dân tộc ở phía Nam Tây Nguyên.


Sau cuộc họp ngày 10-12-1975, ngày 17-12-1975, đồng chí Trần Sâm - Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, đã ký Thông báo số 54/TB/ĐBHN “Thông báo của Thường vụ Thành ủy về xây dựng vùng kinh tế mới ở Tuyên Đức”. Văn bản này ghi rõ: Thi hành Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 6, việc vận động nhân dân thành phố đi xây dựng vùng kinh tế mới tại Tuyên Đức là một đòi hỏi cấp thiết để xây dựng nền kinh tế quốc dân và là nhu cầu đời sống của nhân dân Thủ đô. Đồng thời, nhằm phân bổ lại sức lao động và có ý nghĩa cách mạng phải xây dựng cuộc sống mới trong tương lai.
Thông báo số 54/TB/ĐBHN cũng thống nhất chủ trương: Đối tượng vận động đi xây dựng vùng kinh tế mới bao gồm cả nhân dân nội thành và ngoại thành. Nhưng, ở thời kỳ đầu phải chọn nam, nữ trẻ là đảng viên, đoàn viên và thanh niên nhiệt tình, hăng hái, tự nguyện đi trước làm công tác chuẩn bị khai phá, xây dựng một số cơ sở vật chất cần thiết phục vụ cho sản xuất và các phúc lợi công cộng ban đầu. Lực lượng này cần tổ chức dân quân, tự vệ và lãnh đạo chặt chẽ.
Về tổ chức và chỉ đạo, Thường vụ Thành ủy nhấn mạnh những nội dung nêu ở trên có ý nghĩa quan trọng, cần sự phối hợp hiệp đồng với các cấp, các ngành. Trước mắt, Thường vụ Thành ủy chỉ đạo cần tiến hành một số việc: Thành lập 1 đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy để giúp Thành ủy lãnh đạo mọi mặt công tác vùng kinh tế mới. Ban Tổ chức thành phố sớm nghiên cứu hình thức tổ chức về chính quyền cần thiết để có thể triển trai được công việc theo thể thức Nhà nước. Trong đó, 4 huyện (Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm - PV), hết quý I-1976 cử đủ 2.000 người đi trước khai phá. Các khu phố phải chuẩn bị tư tưởng trong nhân dân và có kế hoạch tuyên truyền vận động. Ủy ban Nông nghiệp thành phố cử 2 đoàn cán bộ kỹ thuật đi khảo sát tại các nơi miền Bắc về dâu tằm và bò sữa, sau đó lập phương án sẽ triển khai tại Tuyên Đức. Các ngành: Ủy ban Kế hoạch, Sở Lao động, Ủy ban Nông nghiệp… phải đến Tuyên Đức khảo sát lập kế hoạch gấp về trình với Thường vụ Thành ủy duyệt. Các Cục, Ngành, Sở có liên quan cần hình thành các tổ chức để tiến hành đồng bộ (kể cả phương án y tế, văn hóa, giáo dục) và kiện toàn Ban vùng kinh tế mới các khu phố, huyện…
Từ chủ trương trên, đầu năm 1976, một đoàn cán bộ khoa học của Hà Nội với hơn 30 người đã vào Tuyên Đức để khảo sát. Và vùng đất bazan bằng phẳng hình như một chiếc mâm nằm phía hạ lưu suối Cam Ly có ngọn núi Voi che chắn đã lọt vào mắt những người Hà Nội.

Ngày 16-3-1976, Thường vụ Tỉnh ủy, UBND cách mạng tỉnh Lâm Đồng và Thường vụ Thành ủy và Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội đã tổ chức cuộc họp để bàn về chủ trương, phương hướng, mục tiêu và kế hoạch năm 1976 về xây dựng vùng kinh tế mới của Hà Nội tại Lâm Đồng. Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Xuân Bảy (Thành ủy viên, Trưởng ban Kiến thiết vùng kinh tế mới của Hà Nội tại Lâm Đồng) báo cáo về phương hướng, mục tiêu xây dựng vùng kinh tế mới đến năm 1980, dự kiến về kế hoạch năm 1976 và những việc phải làm trước mắt, Thường vụ cấp ủy và Ủy ban của hai địa phương đã thảo luận và đi đến thống nhất: Năm 1976 phải thực hiện hàng loạt những vấn đề lớn như: Xây dựng nhà ở, làm đường và tổ chức đời sống cho người lao động. Hai địa phương thấy rằng vấn đề cấp bách hiện nay phải được giải quyết là cung cấp tiền vốn, lương thực cho người và những nhu cầu về vật liệu xây dựng nhà ở…
Đến ngày 29-3-1976, đoàn xe chở 125 thanh niên tiền trạm của huyện Gia Lâm (cũ), sau 7 ngày đêm hành quân đã đổ xuống nơi mà bây giờ là trung tâm của xã Nam Ban Lâm Hà (thị trấn Nam Ban cũ) tổ chức phát rừng, mở núi, biến đồi núi hoang hóa trở thành vùng kinh tế mới trù phú như ngày nay.
Ngày 1-9-1976, tại cuộc họp của Thường trực Thành ủy Hà Nội, sau khi sơ kết tình hình vận động nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở tỉnh Lâm Đồng đã quyết nghị nhiều vấn đề. Trong đó nêu rõ: Từ tháng 4-1976, các huyện và khu phố Ba Đình đã làm điểm ở 22 xã và 27 tiểu khu, vận động nhân dân vào khu kinh tế mới. Đến đầu tháng 7-1976, toàn thành phố đã tổ chức đưa vào vùng kinh tế mới 443 lao động đi trước (trong đó 111 là nữ, 49 là đảng viên) làm nhiệm vụ xây dựng và chuẩn bị cơ sở cho nhân dân vào sản xuất ở vùng kinh tế mới. Qua một thời gian vừa ổn định tổ chức, vừa lao động khẩn trương, được các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành ở địa phương giúp đỡ, đến nay đã xây dựng được 7.600m2 nhà ở, làm 24km đường giao thông, khai hoang 110ha và bắt đầu sản xuất thí nghiệm 27ha rau, ngô, khoai, dứa và chăn nuôi một số trâu, bò… Đã khảo sát khoảng trên 10.000ha đất đai, sơ bộ vạch ra hướng sản xuất và đang tiếp tục điều tra một vùng khác rộng 33.000ha…
“Cán bộ và lao động ở vùng kinh tế mới nói chung có nhiều cố gắng, bước đầu xây dựng được một số cơ sở, gây được tinh tưởng với nhân dân địa phương”, Thông báo số 76 TB/ĐBHN kết luận cuộc họp ngày 1-9-1976 của Thường trực Thành ủy Hà Nội ghi rõ.
Thường trực Thành ủy cũng đi đến thống nhất nội dung mở rộng việc vận động nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng ra tất cả các xã ngoại thành và các khu phố trong nội thành. “Từ nay đến cuối năm 1976, đưa tiếp 1.600 lao động đi trước làm nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở để đưa nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, theo sự phân công của Ủy ban nhân dân thành phố đã giao cho các huyện và khu phố… Sở Giáo dục cần cử cán bộ vào tổ chức việc học bổ túc văn hóa. Sở Văn hóa thông tin tổ chức phong trào văn hóa quần chúng ở vùng kinh tế mới. Sở Giao thông vận tải chuẩn bị vận chuyển số lao động đi tiếp vào vùng kinh tế mới... Ban Tổ chức, Ủy ban Nông nghiệp chuẩn bị cán bộ để tổ chức bộ máy nông trường quốc doanh. Sở Thương nghiệp cố gắng cung cấp giải quyết khó khăn đời sống vật chất cho cán bộ và lao động vùng kinh tế mới”, Thường vụ Thành ủy Hà Nội chỉ đạo thêm.
Như vậy có thể thấy, trong khi còn bộn bề với nhiệm vụ khôi phục sản xuất sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực Thành ủy Hà Nội đối với việc xây dựng vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng có từ rất sớm. Điều đó tạo điều kiện để bà con nhân dân khi đến với vùng đất phía Nam Tây Nguyên sớm ổn định cuộc sống theo đúng chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ.
Kết quả là chỉ sau 6 tháng triển khai (hết tháng 10-1976), theo Báo cáo tình hình lao động xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Đồng gửi Thường vụ Thành ủy và UBND thành phố Hà Nội, đã có 2.454 lao động (837 nữ, 195 đảng viên, 698 đoàn viên), đưa tổng số cán bộ và lao động người Hà Nội có mặt tại vùng kinh tế mới lên con số 2.647 người và 44 trẻ em. Đây chính là những hạt giống để xây dựng một “Hà Nội 2” giữa cao nguyên xanh cho đến nay.


Hành trình mở đất của những người con Thủ đô có dấu ấn rất lớn của lực lượng thanh niên là đáp án chung khi chúng tôi đem câu chuyện từ 50 năm trước hỏi những người đi tiền trạm vào vùng đất Nam Ban từ năm 1976. Vậy là qua rất nhiều đầu mối liên lạc, chúng tôi cũng gặp được ông Phan Hữu Giản (sinh năm 1941) - nguyên Ủy viên Thường vụ Thành đoàn Hà Nội, Bí thư Đoàn vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng, nguyên Bí thư Huyện ủy Lâm Hà - tại nhà riêng ở phường Lâm Viên Đà Lạt.
Ở tuổi 85, sức khỏe của ông Giản đã giảm sút nhưng khi gợi ý lại ký ức những ngày đầu khai phá vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng, ông như khỏe ra. Ông Giản kể: “Ngay từ chủ trương, Thường trực Thành ủy đều nhấn mạnh yêu cầu đối tượng vận động đi xây dựng vùng kinh tế mới trong thời kỳ đầu phải chọn nam, nữ trẻ khỏe là đảng viên, đoàn viên, thanh niên nhiệt tình, tự nguyện. Phát huy truyền thống “Ba sẵn sàng” của tuổi trẻ Thủ đô trước tình hình nhiệm vụ mới và khó, Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội - sau khi Thành ủy điều động đồng chí Vương Tước, Phó Bí thư Thành đoàn sang làm Ủy viên thường trực Ban vận động kinh tế mới thành phố - đã phân công tôi, khi đó đang là Ủy viên Thường vụ Thành đoàn trực tiếp làm Bí thư Đoàn vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng giai đoạn 1976-1978. Sau đó, Thành đoàn đều phân công một đồng chí Ủy viên Ban chấp hành Thành đoàn vào trực tiếp làm Bí thư Đoàn vùng kinh tế mới cho đến khi tổ chức Đoàn ở đây thực sự trưởng thành. Các quận, huyện đoàn cũng phân công các đồng chí Phó Bí thư hoặc Ủy viên thường vụ tham gia Ban lãnh đạo các Tổng đội thanh niên lao động tiền trạm của 8 quận, huyện lần lượt lên đường vào Lâm Đồng phục vụ”.
Bí thư Đoàn Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng Phan Hữu Giản sinh năm 1941, quê ở Tứ Liên, khi đó thuộc huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Hồng Hà. Là Bí thư Đoàn đầu tiên của vùng kinh tế mới (1976-1978) nên để anh em yên tâm làm việc, cuối năm 1976, ông Giản đã đưa mẹ và sau đó là cả gia đình vào cùng. Từ đó đến nay, ông đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo ở huyện Lâm Hà, thành phố Đà Lạt (cũ) và tỉnh Lâm Đồng cho đến khi nghỉ hưu.
Nhớ về những ngày tháng đầu tiên ở Vùng kinh tế mới, vợ ông Giản là bà Hà Thị Định (sinh năm 1943, quê ở làng Mông Phụ, phường Sơn Tây, Hà Nội) chia sẻ thêm: “Chúng tôi cưới nhau năm 1966, tháng 9-1977, tôi theo ông ấy vào Nam Ban. Ngày ấy, nhiều khó khăn không kể hết được. Tôi nhớ, có lần ông Giản từ Nam Ban lên Đà Lạt họp bị Fulro bắn sượt đầu nên mỗi khi ông ấy đi công tác là tôi lo lắm”.

Từ khi có chủ trương chung, tổ chức Đoàn và đoàn viên, thanh niên Thủ đô đã cùng với các cấp, ngành tham gia vận động nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới Lâm Đồng ngày càng tích cực, tự giác, đạt số lượng và chất lượng cao hơn. Tính từ đợt ra quân đầu tiên của 125 thanh niên lao động tiền trạm huyện Gia Lâm ngày 29-3-1976 đến ngày 5-8-1978, toàn thành phố đã đưa được 2.662 thanh niên lao động tiền trạm vào vùng kinh tế mới, vượt kế hoạch dự kiến ban đầu. Riêng Tổng đội Đông Anh, kế hoạch giao 500 thanh niên thì đến cuối tháng 10-1976 đã có 1.011 lao động tiền trạm có mặt tại Lâm Đồng.
Ông Giản kể tiếp: Nhờ sức trẻ, đoàn viên cùng với các đảng viên là lực lượng nòng cốt trong khai đất, mở đường, gây dựng cơ sở vật chất tại vùng kinh tế mới. Trong đó, công tác tư tưởng, vận động quần chúng được Đoàn vùng kinh tế mới đặc biệt chú ý. Từ đó, anh chị em càng thêm phấn khởi, tự hào, nâng cao trách nhiệm, tổ chức ngày càng có hiệu quả nhiều trọng trách được giao trong hơn 2 năm đầu hoạt động tập trung dưới hình thức là lực lượng thanh niên lao động tiền trạm của các quận, huyện, tích cực chuẩn bị điều kiện hình thành các đơn vị kinh tế cơ sở.
Cụ thể, lực lượng thanh niên lao động tiền trạm đã tích cực góp phần phục vụ công tác điều tra thực địa ở cả hai địa bàn Nam Ban, Lán Tranh rộng hơn 42.600ha đất tự nhiên, kịp thời cung cấp tài liệu lập các phương án kinh tế - kỹ thuật để lãnh đạo hai địa phương Hà Nội - Lâm Đồng trình Trung ương phê duyệt quy hoạch, kế hoạch xây dựng, phát triển Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng. Đội ngũ đoàn viên cũng dọn gốc rễ trên 1.900ha đất khai hoang cơ giới để đưa vào sản xuất 1.256ha; mở 77km đường trục, 271km đường giao thông nội bộ và làm 35 cầu cống các loại. Thanh niên Thủ đô cũng tham gia thi công 52km đường dây đưa mạng lưới điện từ Đa Nhim về vùng kinh tế mới phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Ngoài lực lượng tiền trạm vào trước, Đoàn vùng kinh tế mới đã tham gia đón được 948 hộ gia đình với 2.178 lao động và 248 cán bộ vào Lâm Đồng. Tổ chức Đoàn và thanh niên lao động tiền trạm còn là chủ lực trong công tác xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Toàn vùng đã xây dựng được 3 đại đội, 30 trung đội dân quân tự vệ với tổng số 1.570 cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, đại đội tự vệ bán vũ trang vừa sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ an toàn Nông trường Lán Tranh đã tham gia 25 lần truy quét bọn phản động Fulro.

Ông Phan Hữu Giản kể tiếp: “Trong quá trình tham gia sản xuất, xây dựng, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, đặt nền móng mở đường cho Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng, đã có 4 đồng chí cán bộ, đoàn viên, thanh niên lao động tiền trạm bị Fulro sát hại dã man… Đến cuối năm 1978, lực lượng thanh niên lao động tiền trạm của Thủ đô hết thời gian làm nhiệm vụ và đại bộ phận trở về quê hương. Số còn lại khoảng 250 đồng chí cùng với gia đình đang công tác trong các cơ quan, nông trường, xí nghiệp, trạm trại và các hợp tác xã tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng Vùng kinh tế mới và rất nhiều người trong số đó đã ở Nam Ban đến thế hệ thứ ba, thứ tư”.


Cùng với việc gây dựng cơ sở vật chất ban đầu ở khu xây dựng kinh tế mới, mở rộng diện tích đất khai hoang, công tác tổ chức, đưa đón nhân dân Thủ đô vào sinh cơ lập nghiệp trên quê hương mới được hai địa phương Hà Nội và Lâm Đồng phối hợp tiến hành thường xuyên, hiệu quả. Đầu tiên là những hộ dân của huyện Từ Liêm (tháng 9-1976), tiếp đó là các quận, huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ... đã lên đường vào vùng kinh tế mới. Ngày 24-10-1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 157- HĐBT sáp nhập vùng kinh tế mới Hà Nội vào huyện Đức Trọng, chia huyện Đức Trọng thành 2 huyện: Đức Trọng, Lâm Hà. Ngày 28-10-1987, lễ ra mắt huyện Lâm Hà (ghép từ Lâm Đồng và Hà Nội) được tổ chức trọng thể, đánh dấu sự ra đời huyện mới của tỉnh Lâm Đồng.
Thực hiện: Thế Dũng - Đức Hải
Thiết kế: Thanh Nga
